Truy cập nội dung luôn
SỞ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TỈNH QUẢNG NGÃI

PHONG TỤC CỦA DÂN TỘC HRE

18/02/2014

Dân tộc Hre cư trú ở các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long (Quảng Ngãi) và An Lão (Bình Định). Tiếng Hre thuộc ngôn ngữ Môn-khme. Người Hre chủ yếu sống bằng nghề làm lúa nước và nương rẫy. Săn bắn, hái lượm, đánh cá, rèn là những nghề phụ nhưng có ý nghĩa đáng kể. Người Hre định canh thành từng làng (plây), ở nhà sàn. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, mỗi làng đều có già làng đứng đầu

 

1. Cưới xin:

Nguyên tắc một vợ một chồng đã được xác lập, dưới chế độ cũ, một số ít người thuộc tầng lớp trên có hai, ba vợ. Một số người lấy vợ hai do hiếm con. Tập tục cho phép vợ goá lấy em trai chồng, chồng có thể lấy em gái vợ.

Anh chị em con cô, con cậu, con dì con vợ cả, con vợ hai, con cùng mẹ khác cha  đều không được đặt quan hệ hôn nhân với nhau. Quan hệ luyến ái trái ngược với phong tục thì bị phạt nặng, loạn luân bị coi là trọng tội. Trong cưới xin cũng có người mai mối. Hôn nhân của người Hre không mang tính chất mai mối. Hôn nhân của người Hre không mang tính chất mua bán. Hiện tượng kết hôn với người khác tộc chưa phổ biến, nhưng đang phát triển dần, nhất là những người xen cư, kế cận với người Việt, Xơ Đăng, Cor. Tuỳ theo hoàn cảnh thực tế của gia đình mỗi bên mà chàng rể có thể về nhà vợ hay cô dâu về nhà chồng. Khi vợ chồng sinh con đầu lòng thì tách khỏi cha mẹ, làm nhà riêng, thành đơn vị kinh tế độc lập.

Đám cưới thường được tổ chức vào dịp cuối năm , lúc rảnh rỗi và no đủ. Bên nào đón người về (làm dâu hoặc ở rể) thì tổ chức nghi lễ lớn hơn. Họ mở tiệc mặn, có rượu cần, trò chuyện và ca hát vui vẻ. Gia đình chuẩn bị sẵn một bếp dành làm nơi ngủ cho đôi vợ chồng mới. Tại đây diễn ra những nghi thức tượng trưng cho sự gắn bó vợ chồng. Hai người trao cho nhau miếng trầu, bát rượu, quàng chung một vòng chỉ. Trường hợp đón dâu, nhà trai cử một cô gái đi đón về, nhà gái cho một cô gái tiễn đưa. Cô dâu về nhà chồng qua cửa mang (cửa thông với phần trong nhà). Đêm đầu người tiễn đưa ở lại ngủ cạnh nàng dâu (hoặc chú rể). Sáng hôm sau đôi tân hôn quay trở lại nhà bố mẹ vợ hoặc chồng, rồi họ trở về nơi cư trú đã định trước.

2. Sinh đẻ:

Gần đây, vợ chồng người Hre có xu hướng thích con trai hơn. Suốt những tháng mang thai, phụ nữ kiêng cử, cầu cúng nhiều với hy vọng sinh đẻ dể dàng, đứa trẻ lành lặn, dể nuôi. Người phụ nữ đẻ ngay bên bếp, một vài chị em thân cận và bà mụ được mời tới cúng và hộ sinh. Đứa bé được cắt rốn, tắm rữa. Họ gói kín nhau vào mo cau đem để trong hang đá, hoặc dưới gốc cây rừng, hoặc chổ cạnh nhà. Trong khoản vài chục ngày sau khi đẻ, người mẹ nghỉ việc, kiêng ăn cá niêng, trứng, ớt, chuối, thịt gà trắng, thịt trâu.

Đứa bé đầy tháng thì làm lễ đặt tên, tránh trùng tên hoặc vần với những người trong họ hàng. Đồng bào quan niệm ma quỷ có thể làm con họ chết yểu, nên thường dùng tên xấu xí. Cùng với việc lấy họ như người Việt, người Hre đã tiếp thu từ “thị” trong tên nữ và từ “văn”  trong tên nam. Thường ngày, người lớn không gọi thẳng tên trẻ con mà dùng đại từ thay thế để xưng hô: con trai là “éo”, con gái là “yên”, như người việt gọi “thằng cu”, “con gái”.     

3. Tang ma:

Người chết bình thường tại nhà  thì đặt ở tư thế nằm ngửa trên phần sàn vẫn ngủ khi sống, rửa mặt bằng nước lã, mặc hai, ba lớp quần áo, rồi quấn chiếu hay đặt vào hòm. Khi một gia đình  có người qua đời thì họ hàng thân thuộc và cả dân làng đến giúp lo ma chay. Nếu gia đình chưa chuẩn bị hòm thì một nhóm đàn ông vào rừng kiếm gỗ làm hòm. Những người khác đi lấy gỗ, cỏ tranh, dây làm nhà mồ, hoặc mổ heo, trâu giúp chủ nhà làm cơm đãi khách. Con vật hiến tế được coi là dành cho người chết. Người Hre làm hòm bằng thân cây đục rỗng khá công phu, giống như chiế thuyền độc mộc, có ván thiêng đậy lên trên. Nhà giàu thường để xác người thân ba, bốn ngày, đâm trâu linh đình. Nhà nghèo thường để sau một ngày đã đem chôn. Nếu người chết là chủ gia đình thì đưa ra ngoài theo cửa phía đầu nhà, nếu là thành viên khác trong nhà thì đưa qua cửa bên.

Người Hre quan niệm, ban ngày ở dương gian là ban đêm ở cõi âm, nên có tục đốt xác ong để dẫn đường khi đưa tang. Tục chia của cho người chết, nhiều loại, có loại đặt trong hòm như quần áo, cơm , thịt, bạc, trầu, có loại chôn ngoài như con gà, cái ché, có loại đặt trên mặt đất như dao, bếp, nồi, củi, gùi…

Người Hre không có tục để tang. Sau khi chôn cất, người thân nghỉ việc ruộng rẫy vài ba ngày, không ca hát, hội hè gì. Năm hôm sau lễ chôn cất, người nhà đem một con gà nhỏ ra cạnh làng để cúng, tỏ lòng thương tiếc, an ủi, chia sẻ tình cảm với người chết một lần nữa. Trước khi ăn tết, các nhà có tang trong năm cùng đem bánh nếp tới mộ than khóc, phát dọn cây con, để lại phần bánh trên mộ. Từ đó đồng bào chỉ cúng người chết khi có do quẻ bói cho biết là có tổ tiên quở phạt.

Dân tộc Hre quan niệm người chết trận, chết sinh đẻ, chết bị hổ vồ, sét đánh…là chết độc (chết dữ), phải chôn riêng một chỗ xa làng. Nếu chết ở ngoài thì không đem vào nhà. Đồng bào còn có tục làm ma giả đối với trường hợp chết mất xác hoặc bỏ xác ở phương xa, mục đích là để mai tang những di vật của người xấu số.

 

Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 362

Tổng số lượt xem: 22327

Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch | Cổng thông tin điện tử Quảng Ngãi

Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi

Điện thoại: 0255.3822716. Email: svhtt@quangngai.gov.vn

Địa chỉ: 105 Hùng Vương - Thành phố Quảng Ngãi